Kim Dung
Môn võ công nào là đệ nhất trong các tác phẩm của nhà văn Kim Dung?
Hôm nay là một ngày buồn cho thế hệ đam mê tiểu thuyết cũng như các bộ
phim kiếm hiệp kỳ tình. Ngày nhà văn Kim Dung ra đi mãi mãi, thọ 94
tuổi. Dù cho thế nào đi nữa, các tác phẩm của ông cũng đã làm say mê
hàng triệu nam nữ thế hệ 7x, 8x tại Việt Nam với những đêm “luyện
chưởng”, những ngày mong chờ tập mới ở những cuốn băng VHS đầy kỉ niệm.
Về Kim Dung, dù có nhiều tác phẩm kiếm hiệp kỳ tình đã trở thành huyền thoại, nhưng bàn luận nhiều nhất có lẽ là các nhân vật và các loại võ công trong các tiểu thuyết của ông. Mình chỉ lạm bàn về những cái này, còn về cuộc đời và sự nghiệp của ổng các bạn có thể google thêm nếu quan tâm nhé.
Lưu ý: Bài chém gió, các bạn nghiêm túc quá hoặc không thích kiếm hiệp đừng xem mất thời gian nha. Còn ai quan tâm và cùng sở thích thì comment cùng bàn luận ôn lại kỉ niệm xưa...
Về Kim Dung, dù có nhiều tác phẩm kiếm hiệp kỳ tình đã trở thành huyền thoại, nhưng bàn luận nhiều nhất có lẽ là các nhân vật và các loại võ công trong các tiểu thuyết của ông. Mình chỉ lạm bàn về những cái này, còn về cuộc đời và sự nghiệp của ổng các bạn có thể google thêm nếu quan tâm nhé.
Lưu ý: Bài chém gió, các bạn nghiêm túc quá hoặc không thích kiếm hiệp đừng xem mất thời gian nha. Còn ai quan tâm và cùng sở thích thì comment cùng bàn luận ôn lại kỉ niệm xưa...
◤
Xạ Điêu Tam Khúc
◢
Vì một số tác phẩm kiếm hiệp của Kim Dung không liền mạch nên những
người yêu mến các tác phẩm của ông tập trung nhiều vào mạch truyện nổi
tiếng nhất: Xạ Điêu Tam Khúc. Trong đó bao gồm rất nhiều nhân vật trải
dài qua nhiều tác phẩm và thời gian. Cụ thể Xạ Điêu Tam Khúc bao gồm Anh
Hùng Xạ Điêu, Thân Điêu Đại Hiệp (Thần Điêu Hiệp Lữ) và Ỷ thiên Đồ Long
Ký. Gần nhất và cũng liên đới tới Xạ Điêu Tam Khúc chính là Thiên Long
Bát Bộ, bối cảnh xảy ra trước Xạ Điêu Tam Khúc một chút. Đây cũng là bộ
tiểu thuyết thành công nhất cũng như được làm phim nhiều phiên bản nhất
của Kim Dung.
Trong một cuộc phỏng vấn năm 1994, chính Kim Dung cũng chia sẻ nhân vật mà ông cho là đệ nhất cao thủ chính là Trương Chân Nhân, tên thật là Trương Quân Bảo, hiệu danh Trương Tam Phong. Là người sáng lập phái Võ Đang, cũng như hai bộ võ công được cho là tuyệt đỉnh thiên hạ trước ngàn năm không có và sau ngàn năm cũng vậy. Là Thái Cực Quyền và Thái Cực Kiếm Pháp.
Trong một cuộc phỏng vấn năm 1994, chính Kim Dung cũng chia sẻ nhân vật mà ông cho là đệ nhất cao thủ chính là Trương Chân Nhân, tên thật là Trương Quân Bảo, hiệu danh Trương Tam Phong. Là người sáng lập phái Võ Đang, cũng như hai bộ võ công được cho là tuyệt đỉnh thiên hạ trước ngàn năm không có và sau ngàn năm cũng vậy. Là Thái Cực Quyền và Thái Cực Kiếm Pháp.
◤
Thái Cực Trương Tam Phong
◢
Sở dĩ Trương Tam Phong được Kim Dung xếp vị trí số một là vì nhiều lý
do, trong đó có chữ đạo trong đạo đức và quan niệm sống. Còn về võ công,
có lẽ bởi vì võ công của Trương Tam Phong đã đạt tới cảnh giới thấu
hiểu thái cực tuần hoàn, là âm & dương bao quát đầy đủ cả nhu và
cương, mạnh và yếu. Hoá giải tất cả chiêu thức và nội công đối phương.
Tấn công là dùng sức, hoá giải là giữ sức, lấy tĩnh chế động, lây nhu chế cương, tĩnh để thấy hết chiêu thức, nhu là đễ giữ sức. Tóm lại càng đánh càng khoẻ, càng đánh càng nhanh nhẹn, càng đánh càng chiếm ưu thế. Nhưng không vì vậy mà chỉ có phòng thủ, khi nào thì thắng, đó là khi ung dung, nhẹ nhàng và tỉnh táo nhìn thấy mọi sơ hở điểm yếu của đối thủ. Thực tế, khi đối thủ mệt, thì cũng đã tự khắc thua rồi. Không cần phải đánh. Thực chất trong Thái Cực Quyền và Thái Cực Kiếm Pháp đã lĩnh hội được tuyệt kỹ cao nhất của Độc Cô Cửu Kiếm là lấy vô chiêu thắng hữu chiêu, càng quên chiêu thức càng xuất thần bởi đối phương không thể nào đoán và đỡ được.
Chưa hết, Thái Cực Phẩm cũng lĩnh hội luôn tuyệt kỹ cao nhất của Cửu Âm Chân Kinh là lấy thiếu thắng thừa, lấy yếu thắng mạnh dựa trên luật bù trừ. Tiêu biểu đoạn mở đầu trong quyển Thượng của Cửu Âm Chân Kinh có câu "Đạo của trời là cắt cái có thừa bù vào chỗ không đủ, cho nên hư có thể thắng thực, không đủ có thể thắng có thừa" lấy ý "Đạo trời lấy chỗ thừa mà đắp vào chỗ thiếu hụt" ý chính là thái cực tuần hoàn, âm dương hoà hợp, nhu chế cương, tĩnh chế động.
Đó là lý do Thái Cực Phẩm của Trương Tam Phong xếp trên cả Độc Cô Cửu Kiếm của Kiếm Ma Độc Cô Cầu Bại, kế đến là Quỳ Hoa Bửu Điển (có Tịch Tà Kiếm Phổ), Cửu Âm Chân Kinh, Lục Mạch Thần Kiếm...
Tấn công là dùng sức, hoá giải là giữ sức, lấy tĩnh chế động, lây nhu chế cương, tĩnh để thấy hết chiêu thức, nhu là đễ giữ sức. Tóm lại càng đánh càng khoẻ, càng đánh càng nhanh nhẹn, càng đánh càng chiếm ưu thế. Nhưng không vì vậy mà chỉ có phòng thủ, khi nào thì thắng, đó là khi ung dung, nhẹ nhàng và tỉnh táo nhìn thấy mọi sơ hở điểm yếu của đối thủ. Thực tế, khi đối thủ mệt, thì cũng đã tự khắc thua rồi. Không cần phải đánh. Thực chất trong Thái Cực Quyền và Thái Cực Kiếm Pháp đã lĩnh hội được tuyệt kỹ cao nhất của Độc Cô Cửu Kiếm là lấy vô chiêu thắng hữu chiêu, càng quên chiêu thức càng xuất thần bởi đối phương không thể nào đoán và đỡ được.
Chưa hết, Thái Cực Phẩm cũng lĩnh hội luôn tuyệt kỹ cao nhất của Cửu Âm Chân Kinh là lấy thiếu thắng thừa, lấy yếu thắng mạnh dựa trên luật bù trừ. Tiêu biểu đoạn mở đầu trong quyển Thượng của Cửu Âm Chân Kinh có câu "Đạo của trời là cắt cái có thừa bù vào chỗ không đủ, cho nên hư có thể thắng thực, không đủ có thể thắng có thừa" lấy ý "Đạo trời lấy chỗ thừa mà đắp vào chỗ thiếu hụt" ý chính là thái cực tuần hoàn, âm dương hoà hợp, nhu chế cương, tĩnh chế động.
Đó là lý do Thái Cực Phẩm của Trương Tam Phong xếp trên cả Độc Cô Cửu Kiếm của Kiếm Ma Độc Cô Cầu Bại, kế đến là Quỳ Hoa Bửu Điển (có Tịch Tà Kiếm Phổ), Cửu Âm Chân Kinh, Lục Mạch Thần Kiếm...
◤
Độc Cô Cửu Kiếm
◢
Độc Cô Cửu Kiếm xuất hiện trong bộ Thân Điêu Đại Hiệp và Tiếu Ngạo Giang
Hồ của Kim Dung (một chút trong Vi Tiểu Bảo). Rất khó để so sánh trực
tiếp bởi Độc Cô Cầu Bại là một nhân vật chỉ được truyền miệng trong tác
phẩm của Kim Dung, và tinh hoa võ học của ông cũng chỉ được thể hiện qua
Lệnh Hồ Xung, được truyền lại (chưa full) từ Phong Thanh Dương (sư thúc
tổ của Lệnh Hồ Xung trong Tiếu Ngạo Giang Hồ) và Dương Quá (Lĩnh hội
được gần như full khi được chim Điêu cứu và đưa về nơi cuối đời của Độc
Cô Cầu Bại) nhưng xét độ tuổi và thời gian rèn luyện chưa đạt tới cảnh
giới như ông.
Nói điều trên để đi tiếp đến 2 câu chuyện liên quan đến 2 môn võ công khác là Quỳ Hoa Bửu Điển mà trong đó có Tịch Tà Kiếm Phổ lừng danh. Cái thứ 2 là Cứu Âm Chân Kinh, thiên về nội công tâm pháp có thể dùng bất cứ thứ gì để làm vũ khí hoặc không cần tới, tất chiến tất sát, một chiêu lấy mạng là chủ trương.
Nói điều trên để đi tiếp đến 2 câu chuyện liên quan đến 2 môn võ công khác là Quỳ Hoa Bửu Điển mà trong đó có Tịch Tà Kiếm Phổ lừng danh. Cái thứ 2 là Cứu Âm Chân Kinh, thiên về nội công tâm pháp có thể dùng bất cứ thứ gì để làm vũ khí hoặc không cần tới, tất chiến tất sát, một chiêu lấy mạng là chủ trương.
◤
Quỳ Hòa Bửu Điển - Tịch Tà Kiếm Phổ
◢
Với Tịch Tà Kiếm Phổ hay cao siêu hơn Quỳ Hoa Bửu Điển thì Lệnh Hồ Xung
với việc lĩnh hội Độc Cô Cửu Kiếm chỉ nhìn thấy điểm yếu của Quỳ Hoa Bửu
Điển khi đấu với Đông Phương Bất Bại, nhưng chưa đủ trình để tấn công,
thành ra LHX cùng 3 đại cao thủ khác vẫn không đánh bại được Đông Phương
Bất Bại khi solo sòng phẳng.
Tuy nhiên, với Độc Cô Cửu Kiếm anh đã tìm được điểm yếu của Quỳ Hoa Bửu Điển cũng đã cho thấy môn này cao tay hơn, chỉ là thiếu nội công thâm hậu để ra chiêu tất thắng. Dù sao, Quỳ Hoa Bửu Điển cũng xứng đáng xếp hàng top bởi người luyện môn này phải tự cắt chym. Bán nam bán nữ, suy nghĩ và chiêu pháp cũng bất thường khó mà hoá giải. Thiết nghĩ nếu nữ giới luyện thì sao nhỉ?
Tuy nhiên, với Độc Cô Cửu Kiếm anh đã tìm được điểm yếu của Quỳ Hoa Bửu Điển cũng đã cho thấy môn này cao tay hơn, chỉ là thiếu nội công thâm hậu để ra chiêu tất thắng. Dù sao, Quỳ Hoa Bửu Điển cũng xứng đáng xếp hàng top bởi người luyện môn này phải tự cắt chym. Bán nam bán nữ, suy nghĩ và chiêu pháp cũng bất thường khó mà hoá giải. Thiết nghĩ nếu nữ giới luyện thì sao nhỉ?
◤
Cửu Âm Chân Kinh
◢
Với Cửu Âm Chân Kinh thì thiên về nội công, không cần vũ khí cũng đủ
xưng bá võ lâm. Tuy nhiên Hoàng Thường, người sáng tạo nên Cửu Âm Chân
Kinh khi đạt tới cảnh giới cao nhất cũng không còn cơ hội áp dụng, kẻ
thù của ông cũng đã chết, con cháu kẻ thù cũng già nua. Mà bộ này lại
khuấy đảo giang hồ nhiều năm, gây nên ân oán thu hận triền miên là
chính, và cũng là bộ võ công làm nên cốt truyện chính xuyên suốt từ thời
Võ Lâm Ngũ Bá (Vương Trùng Dương sáng lập phái Toàn Chân, Đông Tà Hoàng
Dược Sư, Tây Độc Âu Dương Phong, Nam Đế Đoàn Chính Hưng và Bắc Cái Hồng
Thất Công của Cái Bang) cho đến Anh Hùng Xạ Điêu Quách Tĩnh, Thần Điêu
Đại Hiệp Dương Quá và ở cuối Tam Khúc là Trương Vô Kỵ trong Ỷ Thiên Đồ
Long Ký.
Nếu so Độc Cô Cửu Kiếm với Cửu Âm Chân Kinh thì nằm trong khúc Thần Điêu Đại Hiệp, lúc Dương Quá lĩnh hội được 1/2 Cửu Âm Chân Kinh và Full bộ Độc Cô Cửu Kiếm. Nhưng không có manh mối nào bởi lúc này, cũng không có tình huống nào có thể đối chiếu. Thậm chí đến Ỷ Thiên Đồ Long Ký, khúc cuối, khi mà Chu Chỉ Nhược sử dụng Cửu Âm Bạch Cốt Trảo trấn áp tất cả thì một cô gái áo vàng xuất hiện, chỉ một cái búng tay cũng hoá giải nhẹ nhàng Chu Chỉ Nhược, tuy nhiên đó là vì Chu cô nương mới luyện tí xíu chứ chưa được gì nhiều của Cửu Âm Chân Kinh, còn cô gái áo vàng, truyền nhân của Dương Quá và Tiểu Long Nữ thì chắc là đã học luyện tinh thông mọi thứ, từ Độc Cô Cửu Kiếm cho tới full bộ Cửu Âm Chân Kinh, mà thật ra chiêu thức của cô gái áo vàng trông giống như Đàn Chỉ Thần Công của Đông Tà Hoàng Dược Sư hơn.
Thành ra khó phân cao thấp, chỉ có thể suy đoán rằng Cửu Âm Chân Kinh thiên về âm hàn, tà nhiều hơn chính, bởi Hoàng Thường sáng tạo nên bộ này cũng chỉ vì rắp tâm trả thù, sát niệm cao ngút trời, không có được sự ung dung bao quát các cách hoá giải mọi chiêu thức từ kiếm pháp, nội công và cả ám khí trong 9 chương của Cửu Kiếm. Thành ra mình cho rằng Cửu Âm Chân Kinh thiếu sự phòng thủ tốt mà quá thiên về đoạt mạng, từ đó khó mà thắng được Độc Cô Cửu Kiếm biến hoá khôn lường cộng với nội công tâm pháp thuộc hàng tuyệt đỉnh của Độc Cô Cầu Bại.
Nếu so Độc Cô Cửu Kiếm với Cửu Âm Chân Kinh thì nằm trong khúc Thần Điêu Đại Hiệp, lúc Dương Quá lĩnh hội được 1/2 Cửu Âm Chân Kinh và Full bộ Độc Cô Cửu Kiếm. Nhưng không có manh mối nào bởi lúc này, cũng không có tình huống nào có thể đối chiếu. Thậm chí đến Ỷ Thiên Đồ Long Ký, khúc cuối, khi mà Chu Chỉ Nhược sử dụng Cửu Âm Bạch Cốt Trảo trấn áp tất cả thì một cô gái áo vàng xuất hiện, chỉ một cái búng tay cũng hoá giải nhẹ nhàng Chu Chỉ Nhược, tuy nhiên đó là vì Chu cô nương mới luyện tí xíu chứ chưa được gì nhiều của Cửu Âm Chân Kinh, còn cô gái áo vàng, truyền nhân của Dương Quá và Tiểu Long Nữ thì chắc là đã học luyện tinh thông mọi thứ, từ Độc Cô Cửu Kiếm cho tới full bộ Cửu Âm Chân Kinh, mà thật ra chiêu thức của cô gái áo vàng trông giống như Đàn Chỉ Thần Công của Đông Tà Hoàng Dược Sư hơn.
Thành ra khó phân cao thấp, chỉ có thể suy đoán rằng Cửu Âm Chân Kinh thiên về âm hàn, tà nhiều hơn chính, bởi Hoàng Thường sáng tạo nên bộ này cũng chỉ vì rắp tâm trả thù, sát niệm cao ngút trời, không có được sự ung dung bao quát các cách hoá giải mọi chiêu thức từ kiếm pháp, nội công và cả ám khí trong 9 chương của Cửu Kiếm. Thành ra mình cho rằng Cửu Âm Chân Kinh thiếu sự phòng thủ tốt mà quá thiên về đoạt mạng, từ đó khó mà thắng được Độc Cô Cửu Kiếm biến hoá khôn lường cộng với nội công tâm pháp thuộc hàng tuyệt đỉnh của Độc Cô Cầu Bại.
◤
Những môn - phái khác
◢
Còn về những môn khác, như Giáng Long Thập Bát Chưởng của Cái Bang, Nhất
Dương Chỉ hay tuyệt phẩm Lục Mạch Thần Kiếm, đều bại dưới tay Vương
Trùng Dương, dù ông này đoạt được và sở hứu Cửu Âm Chân Kinh nhưng không
luyện, mà Châu Bá Thông sư đệ (Trung Thần Thông) luyện cũng chỉ thể
hiện uy lực khi truyền lại cho Quách Tĩnh. Và Quách Tĩnh ở khúc Thần
Điêu Đại Hiệp không thể sánh bằng Dương Quá mà Dương Quá thì đã luyện
full bộ Cửu Kiếm và cũng chỉ cần một tay là đủ thống lĩnh quần hùng.
Chỉ có một chút khúc cuối là Dương Quá phải kết hợp với Tiểu Long Nữ song kiếm hợp bích triển khai Ngọc Nữ Tố Tâm Kinh Kiếm Pháp, sự kết hợp giữa Ngọc Nữ Kiếm Pháp của phái Cổ Mộ và tuyệt kỹ Toàn Chân Kiếm Pháp của Vương Trung Dương mới hạ đường đối thủ là Kim Luân Pháp Vương của Mông Cổ (lúc này chiếm cả châu Á và châu Âu).
Lúc cuối bộ Thần Điêu Đại Hiệp, khi Dương Quá đã là đệ nhất cao thủ nếu solo một mình, thì Trương Quân Bảo tức Trương Tam Phong chỉ mới 14 tuổi. Và đến Ỷ Thiên Đồ Long Ký, câu chuyện đã diễn ra sau đó gần 80 năm.
Đó là xoay quanh Xạ Điêu Tam Khúc của nhà văn Kim Dung mà thôi. Nếu thích các bạn có thể tham khảo hoặc xem các tác phẩm khác của Kim Dung cũng không kém phần đặc sắc và truyền kỳ như Thân Kiếm Ân Cừu Lục, Bích Huyết Kiếm...
Lời cuối, xin cám ơn nhà văn Kim Dung đã để lại cho mình cũng như bao thanh niên cùng thế hệ nhưng ký ức khó quên, trong đó, còn có những bài học làm người, những bài học về chính tà, về nghĩa khí, về sự cương trực nhưng không thiếu những đề phòng với loại tiểu nhân. Xin cám ơn và mong ông an nghỉ... Vĩnh biệt ông.
Chỉ có một chút khúc cuối là Dương Quá phải kết hợp với Tiểu Long Nữ song kiếm hợp bích triển khai Ngọc Nữ Tố Tâm Kinh Kiếm Pháp, sự kết hợp giữa Ngọc Nữ Kiếm Pháp của phái Cổ Mộ và tuyệt kỹ Toàn Chân Kiếm Pháp của Vương Trung Dương mới hạ đường đối thủ là Kim Luân Pháp Vương của Mông Cổ (lúc này chiếm cả châu Á và châu Âu).
Lúc cuối bộ Thần Điêu Đại Hiệp, khi Dương Quá đã là đệ nhất cao thủ nếu solo một mình, thì Trương Quân Bảo tức Trương Tam Phong chỉ mới 14 tuổi. Và đến Ỷ Thiên Đồ Long Ký, câu chuyện đã diễn ra sau đó gần 80 năm.
Đó là xoay quanh Xạ Điêu Tam Khúc của nhà văn Kim Dung mà thôi. Nếu thích các bạn có thể tham khảo hoặc xem các tác phẩm khác của Kim Dung cũng không kém phần đặc sắc và truyền kỳ như Thân Kiếm Ân Cừu Lục, Bích Huyết Kiếm...
Lời cuối, xin cám ơn nhà văn Kim Dung đã để lại cho mình cũng như bao thanh niên cùng thế hệ nhưng ký ức khó quên, trong đó, còn có những bài học làm người, những bài học về chính tà, về nghĩa khí, về sự cương trực nhưng không thiếu những đề phòng với loại tiểu nhân. Xin cám ơn và mong ông an nghỉ... Vĩnh biệt ông.
Tổng hợp toàn bộ khung thời gian trong các truyện kiếm hiệp của Kim Dung
Nhà văn Kim Dung đã qua đời ở tuổi 94 để lại sự nuối tiếc của rất nhiều người hâm mộ tiểu thuyết kiếm hiệp.Một fan cứng của ông đã tổng hợp lại toàn bộ mốc thời gian trong các truyện của ông. Mời bạn đọc cùng tham khảo.
Năm 483 TCN, Tây Thi tới nước Ngô, Phạm Lãi gặp được A Thanh. A Thanh truyền thụ kiếm pháp cho các kiếm sĩ nước Việt.
Năm 476 TCN, nước Ngô bị tiêu diệt. Phạm Lãi đi ẩn cư cùng với Tây Thi, A Thanh ra đi.
Năm 527, cao tăng Thiên Trúc – Đạt Ma thiền sư tới Trung thổ truyền giáo, sáng lập thiền tông Trung Quốc. Ông ở lại Thiếu Lâm Tự 9 năm.
Năm 536, Đạt Ma tổ sư qua đời.
Năm 554, Vũ Văn Thái nhà Tây Ngụy công phá thành Giang Lăng (nay là Kinh Châu), Nguyên đế nhà Lương cất giữ kho báu tại Thiên Ninh Tự, đây chính là kho báu “Liên thành quyết.”
Cuối nhà Tùy, Lý Tĩnh lĩnh ngộ võ học bí truyền “Dịch cân kinh”.
Năm 640, Hầu Quân Tập công phá Cao Xương quốc.
Năm 694, Minh Giáo được truyền tới Trung thổ.
Cuối nhà Đường, danh gia kiếm thuật Gia Hưng cải tiến Việt Nữ kiếm pháp.
Năm 877, Cái Bang thành lập.
Năm 907, nhà Đường diệt vong, Da Luật A Bảo Cơ thành lập Khiết Đan
Năm 937, Đoàn Tư Bình khai quốc Đại Lý
Năm 936 – 946, Pháp Huệ thiền sư của Thiếu Lâm Tự luyện thành Nhất chỉ thiền.
Năm 960, Triệu Khuông Dẫn lật đổ nhà Chu, bắt đầu thời kỳ nhà Tống.
Năm 1030, Mộ Dung Bác chào đời.
Năm 1038, nước Tây Hạ thiết lập.
Năm 1047, Mộ Dung Bác đánh bị thương Hoàng My Tăng
Năm 1051, Vô Danh Thần Tăng đến Thiếu Lâm Tự
Năm 1060, Tiêu Phong chào đời
Năm 1061, gia đình Tiêu Viễn Sơn gặp đại nạn ở Nhạn Môn Quan ngoại.
Năm 1062, Tiêu Viễn Sơn học trộm võ công tại Thiếu Lâm Tự
Năm 1063, Đinh Xuân Thu ám toán ân sư Vô Nhai Tử
Năm 1064, Mộ Dung Phục chào đời
Năm 1065, Người sáng lập Minh Giáo Ba Tư, Hoắc Sơn chế tạo Thánh Hỏa Lệnh, đem tinh hoa võ học cả đời khắc lên trên.
Năm 1069, Hư Trúc chào đời.
Năm 1071, Đoàn Dự chào đời.
Năm 1072, Mộ Dung Bác đánh bị thương Thôi Bách Tuyền.
Năm 1074, A Châu chào đời.
Năm 1083, Kiều Phong tiếp nhiệm tân bang chủ Cái Bang
Năm 1090, Cưu Ma Trí đại chiến Sùng Thánh Tự (Đại Lý)
Năm 1091, Kiều Phong rời khỏi Cái Bang. Năm 1092, đại chiến Tụ Hiền Trang.
Năm 1093, Kiều Phong trợ giúp cho Gia Luật Hồng Cơ lật đổ cuộc tạo phản của Hoàng Thái Thúc. Vô Nhai Tử tạ thế, Hư Trúc trở thành tân chưởng môn Tiêu Dao phái. Cùng năm, nước Tây Hạ chiêu vi phò mã.
Năm 1094, Đoàn Chính Minh nhường ngôi cho Đoàn Dự. Tiêu Phong tự vẫn.
Năm 1103, Nhạc Phi chào đời
Năm 1112, Vương Trùng Dương chào đời.
Năm 1115, Hoàn Nhan A Cốt Đả khai quốc Đại Kim
Năm 1120, Hoàng Thường khiêu chiến Minh Giáo
Năm 1125, Kim Quốc diệt Liêu.
Năm 1127, Kim Quốc diệt Bắc Tống.
Năm 1127 – 1130, Linh Hưng thiền sư của Thiếu Lâm Tự mất 39 năm để luyện thành Nhất chỉ thiền
Năm 1140, Độc Cô Cầu Bại sáng tạo ra thức thứ 9 Phá Khí Thức của Độc Cô Cửu Kiếm.
Năm 1141, Nhạc Phi viết Võ Mục Di Thư
Năm 1158, Đoàn Trí Hưng chào đời
Năm 1163, Chu Bá Thông chào đời.
Năm 1164, Hoàng Thường hoàn thành Cửu Âm Chân Kinh. Hồng Thất Công chào đời.
Năm 1168, Âu Dương Phong chào đời
Năm 1170, Độc Cô Cầu Bại tạ thế.
Năm 1171, Hoàng Dược Sư chào đời.
Năm 1173, Khúc Linh Phong chào đời.
Năm 1178, Cửu Thiên Nhận chào đời.
Năm 1183, Kim Luân Pháp Vương chào đời.
Năm 1184, Chu Tử Liễu chào đời.
Năm 1186, Trần Huyền Phong, Âu Dương Khắc chào đời.
Năm 1190, Hỏa Công Đầu Đà sát hại hàng loạt tăng lữ Thiếu Lâm.
Năm 1196, Vương Trùng Dương tái nhập Cổ mộ, khắc bộ Cửu Âm Chân Kinh trên hòm quan tài, lưu lại dòng chữ “Ngọc nữ tâm kinh, dục thắng toàn chân, trọng dương nhất sinh, bất nhược vu nhân”. Một ngày sau, Vô Danh Tăng cùng Vương Trùng Dương đấu rượu xem tham duyệt Cửu Âm sang Cửu Dương; hoạn quan trong triều Nam Tống sáng lập Quỳ hoa bảo điển.
Năm 1200, Hoa Sơn luận kiếm 1
Năm 1203, Vương Trùng Dương tạ thế.
Năm 1205, Quách Tĩnh chào đời
Năm 1206, Thành Cát Tư Hãn khai lập Mông Cổ.
Năm 1208, Hoàng Dung chào đời.
Năm 1226, Dương Quá chào đời
Năm 1227, Hoa Sơn luận kiếm 2. Mông Cổ diệt Tây Hạ. Thành Cát Tư Hãn tạ thế
Năm 1234, nước Kim bị Mông Cổ tiêu diệt.
Năm 1235, cao thủ Minh Giáo dựa theo tuyệt kĩ Đẩu Chuyển Tinh Di của Mộ Dung Long Thành mà tạo nên môn thần công có uy lực hơn là Càn Khôn Đại Na Di.
Năm 1243, Âu Dương Phong & Hồng Thất Công tạ thế; Dương Quá và Tiểu Long Nữ dùng song kiếm hợp bích đánh bại Kim Luân Pháp Vương, Dương Quá học Đạn chỉ thần công.
Năm 1247, Trương Tam Phong chào đời.
Năm 1253, Mông Cổ diệt Đại Lý quốc.
Năm 1257, Thạch giáo chủ Minh Giáo bị Cái Bang đoạt mất Thánh hỏa lệnh.
Năm 1259, Dương Quá phi đá giết chết đại hãn Mông Cổ. Hoa Sơn luận kiếm 3.
Năm 1262, Quách Tương du Thiếu Lâm.
Năm 1271, Hốt Tất Liệt đổi tên Mông Cổ quốc thành Đại Nguyên.
Năm 1273, Quách Tĩnh & Hoàng Dung chết trận ở thành Tương Dương.
Năm 1276, Mông Cổ tấn công đô thành Lâm An của nhà Nam Tống.
Năm 1296, sư vương Tạ Tốn chào đời.
Năm 1317, Tạ Tốn bái sư phụ Thành Côn, gia nhập Minh Giáo.
Năm 1318, Ân Lê Đình, lục đệ tử phái Võ Đang chào đời.
Năm 1323, Thành Côn giết cả nhà Tạ Tốn.
Năm 1336, Tạ Tốn và vợ chồng Trương Thúy Sơn đến đảo Băng Hỏa.
Năm 1337, đại thọ 90 của Trương Tam Phong. Trương Vô Kỵ chào đời.
Năm 1338, quân Nguyên tiêu diệu nghĩa quân Minh Giáo ở Viên Châu, Thường Ngộ Xuân, Bành Oánh Ngọc may mắn chạy thoát.
Năm 1339, Chu Chỉ Nhược chào đời.
Năm 1340, Con gái Nhữ Dương Vương là Mẫn Mẫn Đặc Mục Nhĩ chào đời, Nguyên đế phong là “Triệu Mẫn quận chúa”.
Năm 1341: Tiểu Chiêu chào đời.
Năm 1346, đại thọ 100 tuổi của Trương Tam Phong. Phu thê nhà Trương Thúy Sơn tự vẫn.
Năm 1351, Trương Vô Kỵ luyện Cửu Dương Chân Kinh
Năm 1357, lục đại môn phái vây đánh Minh Giáo. Trương Vô Kỵ trở thành giáo chủ Minh Giáo. Trương Tam Phong sáng tạo ra Thái Cực Thần Công.
Năm 1358: Tiểu Chiêu trở về Ba Tư.
Năm 1359, Thiếu Lâm đồ sư anh hùng hội, Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính tạ thế.
Năm 1360, Trương Vô Kỵ thoái ẩn giang hồ. Dương Tiêu trở thành giáo chủ đời thứ 35 của Minh Giáo.
Năm 1365, Minh Giáo tả sứ Phạm Dao dựa vào Bắc Minh Thần Công và Hóa Công Đại Pháp rồi sáng tạo ra Hấp Tinh Đại Pháp.
Năm 1368, Minh triều diệt Nguyên Triều
Năm 1372, Dương Tiêu tạ thế. Nội bộ Minh Giáo xảy ra lục đục. Các cao nhân trong giáo quyết định cải tổ, đổi tên giáo thành Nhật Nguyệt Thần Giáo.
Năm 1400, Quỳ Hoa Bảo Điển rơi vào tay Hồng Diệp thiền sư của Nam Thiếu Lâm.
Năm 1401, Thái-Nhạc xem trộm Quỳ Hoa Bảo Điển. Lâm Viễn Đồ sau khi xem bản thiếu của Quỳ Hoa Bảo Điển mà sáng tạo nên Tịch Tà Kiếm Phổ.
Năm 1402, Hoa Sơn bị phân liệt thành khí tông kiếm tông.
Năm 1406, 10 trưởng lão Nhật Nguyệt thần giáo phá Ngũ nhạc kiếm pháp.
Năm 1420, Nhật Nguyệt thần giáo tập kích núi Võ Đang, bộ Thái Cực Quyền Kinh và Chân Võ Kiếm do Trương Tam Phong viết tay bị lấy mất
Năm 1458, Thái Cực tông sư Trương Tam Phong tạ thế, hưởng thọ 212 tuổi (theo “Cổ kim Thái Cực Quyền phổ cập nguyên lưu xiển bí”, Lý Sư Dung khảo chứng)
Năm 1469, Lệnh Hồ Xung chào đời.
Năm 1479, phe Kiếm tông và Khí tông phái Hoa Sơn tranh giành.
Năm 1486, Nhậm Doanh Doanh chào đời.
Năm 1493, Đông Phương Bất Bại trở thành giáo chủ Nhật Nguyệt thần giáo.
Năm 1503, Dư Thương Hải tiêu diệt Phúc Uy Tiêu Cục
Năm 1504, Lệnh Hồ Xung học được Độc Cô Cửu Kiếm
Năm 1506, Nhậm Ngã Hành tạ thế
Năm 1509, Lệnh Hồ Xung & Nhậm Doanh Doanh kết thành phu thê, tiếu ngạo giang hồ.
Năm 1610, Kim Xà Lang Quân Hạ Tuyết Nghi gặp họa diệt môn.
Năm 1612, Hạ Tuyết Nghi giành được tam bảo trấn giáo của Ngũ Tiên Giáo.
Năm 1623, Viên Thừa Chí chào đời.
Năm 1644, Viên Thừa Chí, con trai của võ tướng Viên Sùng Hoán đã lãnh đạo hào kiệt trong giang hồ giúp Lý Tự Thành công phá thành Bắc Kinh, nhà Minh bị diệt. Ngô Tam Quế đầu hàng Thanh, vợ chồng Lý Nham tự sát. Cùng năm, Viên Thừa Chí, Hạ Thanh Thanh dẫn đầu người thân và thuộc hạ chạy trốn đến Nam Dương – Singapore ngày nay.
Năm 1645, giữa mùa hè, dưới sự truy sát của quân Thanh, quân chủ lực của Lý Tự Thành thất bị lui về huyện Thông Thành, Hồ Bắc. Một ngày, Lý Tự Thành mang số binh ít ỏi đi thị sát về phía nam huyện, bởi vì ngủ say trong Miếu Huyền Đế, Cửu Cung Sơn nên bị nông dân họ Khương ngộ sát, hưởng thọ 39 tuổi.
Năm 1655, Vi Tiểu Bảo được sinh ra ở Dương Châu.
Năm 1669, Khang Hy cùng Vi Tiểu Bảo bắt Ngao Bái.
Năm 1670, Vi Tiểu Bảo trở thành Thanh Mộc Đường hương chủ của Thiên Địa Hội.
Năm 1698, chưởng môn phái Vũ Đường, Lục Phỉ Thanh chào đời.
Năm 1711, hoàng đế Ung Chính cùng nhà họ Trần ở Hải Ninh đánh tráo con gái vừa sinh ra. Ái Tân Giác La Hoằng Lịch chính là con của nhà họ Trần ở Hải Ninh, Chiết Giang.
Năm 1733, Trần Gia Lạc chào đời.
Năm 1735, Ái Tân Giác La Hoằng Lịch đăng cơ, niên hiệu Càn Long.
Năm 1753, Miêu Nhân Phụng & Hồ Nhất Đao quyết chiến. Hồ Phỉ chào đời.
Năm 1758, Hồng hoa hội giam cầm Càn Long tại Lục Hòa tháp và ép Càn Long phải thừa nhận thân thế của mình.
Năm 1759, Hương Hương công chúa tự sát ở thành Bắc Kinh
Năm 1780, Miêu Nhân Phụng và Hồ Phỉ quyết đấu
Năm 1924, Kim Dung chào đời.
Năm 2018, Kim Dung qua đời.
Thế cẩu tạp chủng lên đảo đào hoa ăn cháo lạc bát vứt đâu rùi.
Đoạn sau sai rồi, theo như trong truyện (không tính tới lịch sử) thì Lý
Tự Thành được 4 vệ sĩ hộ vệ. Người vệ sĩ họ Hồ, biệt danh Phi Thiên Hồ
Ly cứu thoát, 3 huynh đệ kia hiểu lầm, kết oán thù chém giết nhau hơn 1
trăm năm. Từ vụ việc đó mới dẫn tới Hồ Nhất Đao và Miêu Nhân Phượng. Chứ
lấy đâu ra Lý Tự Thành bị ngộ sát? Lý Tự Thành sau còn xuất hiện trong
tác phẩm "Lộc Đỉnh Ký", chính là cha của A Kha - vợ Vi Tiểu Bảo
Chi tiết Vương Trùng Dương và Vô Danh Tăng cũng không hề được đề cập trong các tác phẩm chính.
Chi tiết Vương Trùng Dương và Vô Danh Tăng cũng không hề được đề cập trong các tác phẩm chính.
Comments
Post a Comment